Xét nghiệm CMA là gì?

CMA - Chromosomal MicroArray
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN

Khi siêu âm phát hiện bất thường thai nhi hoặc khi thai phụ thực hiện chọc ối/sinh thiết gai nhau để chẩn đoán di truyền, bác sĩ có thể đề nghị Chromosomal Microarray Analysis – CMA.

CMA là xét nghiệm khảo sát vật liệu di truyền với độ phân giải cao, đặc biệt hữu ích để phát hiện những đoạn nhiễm sắc thể bị mất hoặc tăng thêm với kích thước rất nhỏ mà nhiễm sắc thể đồ thông thường có thể không nhìn thấy.

CMA là gì?

CMA là viết tắt của Chromosomal Microarray Analysis – phân tích vi mảng nhiễm sắc thể.

Con người bình thường có 23 cặp nhiễm sắc thể. Trong mỗi nhiễm sắc thể chứa hàng triệu đoạn DNA. Ngoài các bất thường lớn như thừa nhiễm sắc thể 21 trong hội chứng Down, đôi khi thai chỉ bị mất hoặc tăng thêm một đoạn DNA rất nhỏ.

Những bất thường này được gọi chung là Copy Number Variants – CNV:

    • Deletion: mất một đoạn vật liệu di truyền
    • Duplication: tăng thêm một đoạn vật liệu di truyền

Nếu đoạn mất hoặc lặp chứa những gen quan trọng, CNV có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh, rối loạn phát triển, bệnh tim, bất thường thần kinh hoặc các hội chứng di truyền.

CMA có độ phân giải cao hơn nhiễm sắc thể đồ nên có khả năng phát hiện nhiều CNV kích thước nhỏ. SMFM mô tả CMA có thể phát hiện các mất/lặp đoạn ở mức khoảng 50–100 kb tùy nền tảng, trong khi những bất thường nhỏ như vậy thường không thể nhận biết bằng nhiễm sắc thể đồ. SMFM Publications

CMA khác nhiễm sắc thể đồ như thế nào?

Có thể hình dung đơn giản:

Nhiễm sắc thể đồ giống như nhìn toàn bộ một cuốn sách từ xa, giúp nhận ra một chương lớn bị mất hoặc xuất hiện thêm.

CMA giống như quan sát chi tiết hơn từng đoạn của cuốn sách, vì vậy có thể phát hiện một số phần nhỏ bị thiếu hoặc tăng thêm.

Đặc điểm

Nhiễm sắc thể đồ

CMA

Thừa/mất cả nhiễm sắc thể

Có

Có

Bất thường cấu trúc lớn

Có

Có

Vi mất đoạn/vi lặp đoạn nhỏ

Hạn chế

Ưu thế

Chuyển đoạn cân bằng

Có thể phát hiện

Thường không phát hiện

CNV trên toàn bộ hệ gen

Hạn chế

Có

Có thể xuất hiện VUS

Ít gặp

Có

Vì vậy CMA không đơn giản là “nhiễm sắc thể đồ tốt hơn”. Hai kỹ thuật cung cấp những loại thông tin khác nhau.

Một hạn chế quan trọng là CMA thường không phát hiện chuyển đoạn hoặc đảo đoạn cân bằng, vì những tình trạng này không làm thay đổi tổng lượng DNA. ACOG

Khi nào thai nhi nên được cân nhắc làm CMA?

ACOG và SMFM khuyến cáo CMA khi thai có một hoặc nhiều bất thường cấu trúc lớn trên siêu âm và thai phụ lựa chọn xét nghiệm chẩn đoán xâm lấn. Trong tình huống này, CMA có thể được sử dụng thay cho nhiễm sắc thể đồ để khảo sát bất thường nhiễm sắc thể. ACOG

Một số tình huống thường được cân nhắc gồm:

    • Dị tật tim bẩm sinh
    • Bất thường não hoặc hệ thần kinh trung ương
    • Nhiều dị tật phối hợp
    • Độ mờ da gáy tăng
    • Thai chậm tăng trưởng kèm bất thường cấu trúc
    • NIPT hoặc xét nghiệm khác gợi ý bất thường nhiễm sắc thể cần chẩn đoán xác định
    • Thai phụ đã quyết định chọc ối hoặc sinh thiết gai nhau và mong muốn khảo sát nhiễm sắc thể với độ phân giải cao hơn

Mẫu nào được sử dụng để làm CMA?

CMA không được thực hiện đơn thuần từ máu mẹ để chẩn đoán bộ gen thai. Mẫu thường được lấy từ:

    • Gai nhau qua sinh thiết gai nhau (CVS)
    • Tế bào trong nước ối qua chọc ối
    • Mô thai hoặc bánh nhau trong một số tình huống đặc biệt

DNA được tách từ mẫu và so sánh với dữ liệu tham chiếu để tìm các vùng bị mất hoặc tăng số bản sao.

Vì cần lấy mẫu thai hoặc bánh nhau, CMA trước sinh thường đi kèm một thủ thuật chẩn đoán xâm lấn.

CMA có thể phát hiện thêm gì sau khi nhiễm sắc thể đồ bình thường?

Đây chính là giá trị nổi bật của CMA.

Một nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ trên 491 thai có độ mờ da gáy ≥3 mm cho thấy trong 397 thai có số lượng nhiễm sắc thể bình thường, 36 trường hợp (9,1%) vẫn phát hiện CNV gây bệnh bằng CMA/CNV-seq. Trong đó 24 trường hợp, tương đương 6,0%, là các bất thường dưới mức có thể nhận biết bằng nhiễm sắc thể đồ thông thường. Vietnam Medical Journal

Những CNV gây bệnh thường gặp nhất trong nghiên cứu này gồm vi lặp đoạn 22q11 và các vi mất đoạn vùng 16p11.2–p12.2. Scribd

Điều này minh họa vì sao một kết quả “nhiễm sắc thể đồ bình thường” chưa đồng nghĩa với việc đã loại trừ tất cả bất thường nhiễm sắc thể nhỏ.

Kết quả CMA được trả như thế nào?

CNV thường được phân loại theo mức độ liên quan đến bệnh:

Kết quả

Ý nghĩa

Pathogenic

CNV đã có đủ bằng chứng gây bệnh

Likely pathogenic

Khả năng cao liên quan bệnh

VUS

Chưa đủ bằng chứng xác định có gây bệnh hay không

Likely benign/Benign

Ít khả năng hoặc không gây bệnh

VUS là gì?

Variant of Uncertain Significance – VUS là biến thể mà khoa học hiện tại chưa đủ dữ liệu để kết luận là gây bệnh hay lành tính.

VUS không được hiểu là: “Thai chắc chắn có bệnh.”

Một số trường hợp cần xét nghiệm cha mẹ để xác định CNV được di truyền hay mới xuất hiện ở thai, đồng thời đối chiếu với siêu âm và các cơ sở dữ liệu di truyền.

Trong nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ, VUS được ghi nhận ở 6,3% thai có nhiễm sắc thể nguyên bội. Đây là lý do tư vấn di truyền trước và sau CMA đặc biệt quan trọng. Vietnam Medical Journal

CMA có phát hiện tất cả bệnh di truyền không?

Không. CMA chủ yếu tìm những bất thường về số lượng bản sao của các đoạn DNA.

CMA thường không phát hiện được:

    • Phần lớn đột biến điểm trong một gen
    • Nhiều bệnh đơn gen
    • Các chuyển đoạn hoặc đảo đoạn cân bằng
    • Tất cả trường hợp khảm ở tỷ lệ thấp
    • Tất cả nguyên nhân di truyền của dị tật thai

Ví dụ, một thai có CMA bình thường nhưng dị tật nghi ngờ bệnh đơn gen vẫn có thể cần xét nghiệm gene panel, exome sequencing (WES) hoặc xét nghiệm gen mục tiêu, tùy biểu hiện lâm sàng.

SMFM nhấn mạnh CMA không phải xét nghiệm có khả năng loại trừ mọi bệnh di truyền. SMFM Publications

CMA bao lâu có kết quả?

Thời gian phụ thuộc phòng xét nghiệm và loại mẫu. Thông thường kết quả CMA trước sinh có thể được trả trong khoảng 7–14 ngày, nhưng thời gian thực tế có thể dài hơn nếu:

    • Mẫu không đạt yêu cầu
    • Cần phân tích bổ sung
    • Phát hiện CNV cần xác minh
    • Cần xét nghiệm cha mẹ để hỗ trợ diễn giải.

Hai trường hợp thực tế từ nghiên cứu tại Việt Nam

Một nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, công bố trên Tạp chí Phụ sản, thực hiện SNP-array – một dạng CMA – trên 42 mẫu nước ối. Trong 35 trường hợp có nhiễm sắc thể đồ bình thường, CMA phát hiện thêm 3 thai có CNV gây bệnh (8,6%). ResearchGate

Trường hợp 1: Thai có tứ chứng Fallot

Siêu âm phát hiện thai có tứ chứng Fallot, nhưng nhiễm sắc thể đồ thông thường không phát hiện bất thường.

SNP-array sau đó phát hiện:

Mất đoạn khoảng 2,5 Mb tại 22q11.21

Đây là vùng liên quan đến hội chứng mất đoạn 22q11.2 (DiGeorge syndrome). Hội chứng này có thể liên quan đến dị tật đường ra của tim, bất thường tuyến ức – miễn dịch, hạ canxi máu, bất thường vùng khẩu cái và các vấn đề phát triển thần kinh sau sinh. ResearchGate

Ý nghĩa của trường hợp này: Siêu âm giúp phát hiện bất thường hình thái, nhưng CMA giúp tìm được một nguyên nhân di truyền mà nhiễm sắc thể đồ thông thường đã không phát hiện.

Trường hợp 2: Thai có bất thường hệ thần kinh

Một thai khác có siêu âm ghi nhận giãn não thất IV và bất thường thùy nhộng. Nhiễm sắc thể đồ thông thường vẫn bình thường.

SNP-array phát hiện một mất đoạn khoảng 204 kb tại Xq28. Đoạn mất chứa các gen quan trọng gồm SLC6A8, L1CAM và ABCD1, được nhóm nghiên cứu phân loại là bất thường gây bệnh. ResearchGate

Điểm đáng chú ý là bất thường chỉ khoảng 0,2 Mb, quá nhỏ để quan sát bằng nhiễm sắc thể đồ thông thường nhưng có thể được phát hiện bằng microarray.

Hai trường hợp trên được lấy từ nghiên cứu đã công bố tại Việt Nam nhằm minh họa giá trị của CMA. Chúng không có nghĩa rằng mọi thai có tứ chứng Fallot hoặc bất thường não đều sẽ có những CNV tương tự.

Tài liệu tham khảo

  1. ACOG & SMFM. Microarrays and Next-Generation Sequencing Technology: The Use of Advanced Genetic Diagnostic Tools in Obstetrics and Gynecology. ACOG
  2. SMFM Consult Series #41. The use of chromosomal microarray for prenatal diagnosis, reaffirmed 2024. SMFM Publications
  3. ACOG. Screening for Fetal Chromosomal Abnormalities, Practice Advisory, January 2026. ACOG
  4. Hoàng Tiểu Ngọc, Võ Minh Tuấn, Đỗ Thị Mỹ Khanh. Khảo sát bất thường di truyền ở thai kỳ có độ mờ da gáy dày tại Bệnh viện Từ Dũ. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022;519(2). DOI: 10.51298/vmj.v519i2.3608. Vietnam Medical Journal
  5. Nguyễn Thị Hương và cs. Hoàn thiện quy trình SNP array trong phân tích bất thường di truyền của thai nhi. Tạp chí Phụ sản 2022;20(2):9–16. DOI: 10.46755/vjog.2022.2.1306. ResearchGate
Chia sẻ:

Tin nổi bật

Phụ khoa

Siêu âm SIS là gì?

Biện pháp ngừa thai

Các biện pháp tránh thai hiện có

Chẩn đoán trước sinh & Di truyền

Teo cơ tủy sống SMA: Xét nghiệm, biểu hiện và điều trị
Teo cơ tủy sống SMA: Xét nghiệm, biểu hiện và điều trị

Teo cơ tủy sống SMA: Xét nghiệm, biểu hiện và điều trị

Teo cơ tủy sống – Spinal Muscular Atrophy (SMA) là bệnh di truyền thần kinh – cơ gây yếu và teo cơ tiến triển. Phần lớn các trường…

Xem chi tiết
CNV trong NIPT mở rộng là gì? Ý nghĩa và giới hạn của xét nghiệm

CNV trong NIPT mở rộng là gì? Ý nghĩa và giới hạn của xét nghiệm

NIPT được biết đến nhiều nhất với khả năng sàng lọc các bất thường số lượng nhiễm sắc thể thường gặp như trisomy 21, 18 và 13. Một…

Xem chi tiết
TORCH – Nhiễm trùng bào thai: Dấu hiệu trên siêu âm và các bước cần làm

TORCH – Nhiễm trùng bào thai: Dấu hiệu trên siêu âm và các bước cần làm

Nhiễm trùng trong thai kỳ đôi khi có thể truyền từ mẹ sang thai và ảnh hưởng đến não, tim, mắt, gan, hệ tạo máu hoặc sự phát…

Xem chi tiết
Tầm soát bệnh đơn gen trội ở thai: Những điều cha mẹ cần biết

Tầm soát bệnh đơn gen trội ở thai: Những điều cha mẹ cần biết

Các xét nghiệm NIPT truyền thống chủ yếu tập trung vào bất thường số lượng nhiễm sắc thể như hội chứng Down, Edwards và Patau. Tuy nhiên, thai…

Xem chi tiết